• Văn nghệ - Lễ kỷ niệm 35 năm thành lập Sở



  • Khách mời tham dự Lễ kỷ niệm 35 năm











  • Văn nghệ chào mừng lễ kỷ niệm 35 năm thành lập Sở





  • Văn nghệ chào mừng lễ kỷ niệm 35 năm thành lập Sở







  • Khách mời tham dự Lễ kỷ niệm 35 năm






 

CÁC CHƯƠNG TRÌNH, ĐỀ ÁN, DỰ ÁN KHOA HỌC VÀ

CÔNG NGHỆ HỖ TRỢ PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI THÀNH PHỐ GIAI ĐOẠN 2006 – 2010

  

1. Triển khai Đề án Đổi mới công nghệ công nghiệp sản xuất phục vụ chuyển dịch cơ cấu công nghiệp Thành phố giai đoạn 2009 - 2010, đã đạt được các kết quả đáp ứng được các mục tiêu như sau:

+ Nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về lợi ích của đổi mới công nghệ ; tăng sự chủ động tích cực của doanh nghiệp trong nghiên cứu - ứng dụng và đổi mới công nghệ.

+ Hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện đổi mới công nghệ (đánh giá , đào tạo, tư vấn, thông tin, trình diễn công nghệ ) xuất phát từ nhu cầu thực tế, chú trọng 4 lĩnh vực ưu tiên.

+ Đề xuất các cơ chế chính sách (tài chính, sở hữu trí tuệ , R&D, ứng dụng công nghệ …) mà thành phố có thể chủ động ban hành nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ.

+ Hỗ trợ hình thành thị trường công nghệ; trong đó doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm và ưu tiên phát triển sản phẩm công nghệ cao.

 

2. Triển khai Chương trình thử nghiệm xây dựng Vườn ươm doanh nghiệp công nghệ (DNCN) trong trường đại học giai đoạn 2007 - 2010 với mục tiêu: thử nghiệm và phát triển mạng lưới vườn ươm doanh nghiệp công nghệ trên địa bàn TP.HCM (tập trung vào các trường đại học kỹ thuật); hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp vừa và nhỏ mới khởi nghiệp thuộc các ngành công nghiệp ưu tiên của Thành phố tham gia vào các Vườn ươm DNCN; hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu và mạng lưới các chuyên gia, tổ chức tư vấn và tổ chức tài chính nhằm hỗ trợ cho hoạt động của các vườn ươm DNCN; bồi dưỡng, đào tạo và chuẩn hóa kỹ năng quản lý doanh nghiệp công nghệ cho các

tổ chức /cá nhân trong và ngoài Vườn ươm DNCN.

 

3. Đề án thành lập Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ TP.HCM: Quỹ đã đi vào hoạt động năm 2008 để hỗ trợ triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu có sản phẩm thương mại hóa cao; thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ , chuyển giao công nghệ , đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ của sản xuất với lãi suất cho vay ưu đãi bằng 50% lãi suất của ngân hàng thương mại, không thế chấp tài sản và mức tài trợ không quá 30% tổng kinh phí thực hiện dự án.

Quỹ đã tư vấn thủ tục vay vốn cho trên 40 dự án tập trung vào các ngành: điện - điện tử - bán dẫn, hóa chất, vật liệu, cơ khí, công nghệ sinh học,…; số dự án được duyệt cho vay là 06 dự án với số tiền vay là 26,212 tỷ đồng (chiếm 38% so với tổng vốn đầu tư là 68 tỷ đồng).

Hướng dẫn, tư vấn doanh nghiệp thành lập Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ của doanh nghiệp và đến nay có 10 doanh nghiệp đã thành lập Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ thuộc lĩnh vực sản xuất và dịch vụ với tổng số tiền trích lập Quỹ là 101,7 tỷ đồng để đầu tư đổi mới công nghệ và chuyển giao công nghệ.

 

4. Chương trình đánh giá trình độ công nghệ của doanh nghiệp:

Thực hiện đánh giá trình độ công nghệ các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghiệp chủ lực (cơ khí - tự động hóa, chế biến thực phẩm) và doanh nghiệp trong các Khu chế xuất - công nghiệp Thành phố đạt trên 429 doanh nghiệp thuộc 11 ngành kinh tế theo 4 nhóm chỉ tiêu (thiết bị, nhân lực, tổ chức và thông tin). Xây dựng phần mềm hỗ trợ doanh nghiệp tự đánh giá trình độ công nghệ khi có nhu cầu. Đề xuất một số chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ / thiết bị.

 

5. Triển khai các chương trình, dự án hỗ trợ phát triển Cơ khí - Tự động hóa góp phần hiện đại hóa các ngành công nghịêp TP.HCM:

 

a) Chương trình thiết kế, chế tạo thiết bị trong nước thay thế nhập khẩu đã góp phần khẳng định vị thế của công nghiệp cơ khí và chế tạo của thành phố. Ngân sách khoa học đã hỗ trợ đầu tư 20 dự án thiết bị, công nghệ từ đơn đặt hàng của doanh nghiệp, trong đó 17 dự án (85%) thuộc 4 lĩnh vực công nghiệp ưu tiên của thành phố: cơ khí, điện tử, hóa dược, nhựa - cao su. Tổng kinh phí ngân sách đã hỗ trợ 40,178 tỷ đồng cho thiết kế chế tạo 55 máy móc thiết bị; sau nghiệm thu, đã chuyển giao được 265 sản phẩm cho các doanh nghiệp với giá bán rẻ hơn từ 20% - 60% so với giá nhập khẩu, tiết kiệm ngoại tệ được khoảng 15 triệu USD (282,2 tỷ đồng), hiệu quả đầu tư tính trung bình từ năm 2006 - 2010 ước đạt 7,02 lần.

Thông qua chương trình đã hình thành cơ chế gắn kết giữa các nhà khoa học, doanh nghiệp và Nhà nước theo hướng lấy doanh nghiệp là trung tâm; đồng thời nâng cao năng lực thiết kế chế tạo của đội ngũ chuyên gia khoa học, các doanh nghiệp cơ khí và đội ngũ kỹ thuật có tay nghề cao cho doanh nghiệp.

 

Robot lấy sản phẩm nhựa

b) Chương trình Robot công nghiệp đã có những kết quả khởi đầu khả quan; trong đó một số sản phẩm điển hình đã được thiết kế chế tạo như:

+ “Tay máy lấy sản phẩm nhựa tự động theo phương đứng”, “Robot ứng dụng để tự động hóa công đoạn hàn trong sản xuất sản phẩm kim khí mỹ nghệ” đã được các doanh nghiệp đón nhận, là những sản phẩm robot đầu tiên do Việt Nam chế tạo với giá thành cạnh tranh và chất lượng tương đương ngoại nhập.

 

+ “Robot hàn đứng của các mối hàn góc”, “Robot hàn các đường ghép mí thẳng đứng” (do Công ty Tàu thủy Sài Gòn đặt hàng).

 

+ “Robot sơn tự động”, “Thiết kế kho hàng tự động” (Công ty Vikyno đặt hàng).

+ “Robot hàn giàn giáo” do Công ty Giàn Giáo Việt đặt hàng, sản phẩm đã được chạy thử và có kết quả khá tốt.

 

Mặc dù đã đạt được một số thành công ban đầu nhưng chương trình cần có sự tham gia mạnh mẽ hơn nữa từ phía các Doanh nghiệp, Trường, Viện nhằm nâng tầm cao mới của ngành công nghiệp Robot Thành phố. Vấn đề quan trọng để hoàn thiện ngành công nghệ Robot đó là phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, điều này ở Việt Nam vẫn còn rất yếu và thiếu, do đó quá trình phát triển của Robot công nghiệp của ta vẫn còn nhiều khó khăn.

 

c) Chương trình nâng cao năng lực thiết kế, chế tạo và chuyển giao thiết bị mới với mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp ngành cơ khí chế tạo máy - tự động hóa đổi mới công nghệ, nghiên cứu thiết kế sản phẩm mới.

 

Kết quả: Đã tổ chức 98 lớp đào tạo, huấn luyện nâng cao năng lực thiết kế cho hơn 700 lượt học viên từ các doanh nghiệp chế tạo máy - tự động hóa ứng dụng các phần mềm thiết kế hiện đại, tự động hóa, lập trình gia công, vận hành thiết bị. Cung cấp thông tin thông qua việc phát hành hàng tháng Bản tin “Thiết kế & chế tạo” cho 1.000 doanh nghiệp trong lĩnh vực cơ khí; Tư vấn trên 30 đơn vị trong việc đầu tư phần mềm, tự động hóa sản xuất, vận hành và bảo dưỡng thiết bị gia công cơ khí; Hỗ trợ doanh nghiệp cải tiến 67 thiết bị sản xuất, sản phẩm chế tạo. Một số sản phẩm, thiết bị sau cải tiến đã góp phần giảm chi phí sản xuất đến 10 - 15% hoặc tăng sản lượng đến từ 50 - 100%. Hỗ trợ tính toán mô phỏng, thiết kế sản phẩm cho 04 đơn vị trong ngành thang máy, ô tô, đóng tàu, an ninh quốc phòng.

 

d) Triển khai dự án “Đầu tư xây dựng và trang thiết bị cho Trung tâm Thiết kế Chế tạo Thiết bị mới” (giai đoạn 1) tại Khu Công nghệ cao TP.HCM với tổng vốn đầu tư được duyệt là 46,812 tỷ đồng từ nguồn ngân sách thành phố. Trung tâm thiết kế chế tạo thiết bị mới - Neptech là nơi tập hợp, thu hút các nguồn lực khoa học công nghệ thuộc lĩnh vực cơ khí - tự động hoá để hoàn thiện công nghệ và sản xuất thử nghiệm thiết bị, công nghệ tiên tiến với giá thành hạ, góp phần hiện đại hóa một số ngành công nghiệp mũi nhọn của Thành phố. Dự kiến

dự án hoàn thành trong năm 2011.

 

6. Triển khai Chương trình tiết kiệm năng lượng đã góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

 

Giai đoạn 2006 - 2010, đã kiểm toán năng lượng cho 100 doanh nghiệp . Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý và giải pháp tiết kiệm năng lượng trong các ngành công nghiệp và dân dụng cho 534 doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) . Tư vấn thành lập Hệ thống quản lý năng lượng cho 24 DNNVV. Đã khảo sát xây dựng giải pháp cải tiến công nghệ một số ngành công nghiệp của Thành phố theo hướng sử dụng hiệu quả tài nguyên năng lượng (thép, dược, chế biến thủy sản, giấy, bia và nước giải khát, nhựa dân dụng, gốm, nhuộm, bột mì).

 

7. Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp phát triển tài sản trí tuệ:

 

Đào tạo Quản trị viên tài sản trí tuệ cho doanh nghiệp và các tổ chức khoa học và công nghệ gồm 5 mô-đun (200 tiết) cho 1.650 học viên giai đoạn 2006 - 2010.

Tổ chức hội thảo/tập huấn nhằm tuyên truyền phổ biến pháp luật để nâng cao nhận thức của công chúng đối với vấn đề bảo vệ và tôn trọng quyền SHTT với số lượng: 115 lớp tập huấn; 08 tọa đàm, hội thảo, hội nghị; 06 Hội thảo quốc tế.

Hỗ trợ xây dựng Nhãn hiệu tập thể (NHTT) và Nhãn hiệu chứng nhận:

+ Xây dựng 7 Nhãn hiệu tập thể (NHTT) bao gồm: 3 NHTT cho 3 hiệp hội (Hội Lương thực thực phẩm; Hội nhựa và Cao su; Hiệp hội trái cây); 3 NHTT cho 3 chợ đầu mối Nông sản thực phẩm; 01 NHTT cho Bánh tráng Phú Hòa Đông

+ Xây dựng 02 nhãn hiệu chứng nhận: HàngViệt Nam chất lượng cao và Sữa bò Củ Chi.

+ Hỗ trợ các địa phương xây dựng 5 NHTT gồm: UBND tỉnh Cà Mau (3 NHTT: Mật ong U Minh Hạ, Khô cá Bổi U Minh và Tôm Khô Rạch Gốc). Hỗ trợ tỉnh Bình Dương xây dựng 02 NHTT: Sơn Mài Bình Dương và Bưởi Bạch Đằng.

Hỗ trợ tư vấn, tra cứu thông tin cho trên 1.000 doanh nghiệp về thủ tục đăng ký xác lập quyền đối với nhãn hiệu.

Tổ chức triển khai Chương trình hành động hợp tác phòng và chống xâm phạm quyền SHTT , giúp doanh nghiệp bảo vệ quyền SHTT một cách hữu hiệu.

Hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp về SHTT đã tác động mạnh mẽ đến nhận thức của doanh nghiệp về giá trị và vai trò của quyền SHTT trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

 

8. Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng các công cụ quản lý nhằm nâng cao năng suất - chất lượng:

 

Từ năm 2006 đến nay đã hỗ trợ 154 doanh nghiệp áp dụng các hệ thống quản lý (ISO 9000, 14000, ISO/IEC 17025, HACCP, SA 8000,...) và công cụ cải tiến năng suất (thực hành 5S, đo lường năng suất). Đến nay, Thành phố có khoảng 1.500 doanh nghiệp trên tổng số 6.000 doanh nghiệp của cả nước đạt các chứng chỉ về hệ thống quản lý, chiếm tỷ lệ khoảng ¼, trong đó có 612 doanh nghiệp, đơn vị trên địa bàn Thành phố được cấp giấy Chứng nhận TCVN ISO 9001:2000 (nguồn từ Trung tâm Chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn - QUACERT). Đã tổ chức 210 lớp tập huấn về các hệ thống quản lý và các công cụ nâng cao năng suất - chất lượng với 8.000 số lượt người tham gia.

 

9. Chương trình phổ biến pháp luật, đánh giá thẩm tra công nghệ các dự án đầu tư và xác nhận đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ:

 

Tổ chức thẩm định, xác nhận và góp ý công nghệ cho các dự án đầu tư của doanh nghiệp trung bình 72 dự án/năm ; xây dựng quy trình triển khai xác nhận tổ chức giám định công nghệ và giám định viên công nghệ; xác nhận đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ trung bình đạt 4 hợp đồng/năm.

Tổ chức hoạt động tư vấn chuyển giao công nghệ, các buổi hội thảo về phát triển thị trường công nghệ tại các kỳ Chợ thiết bị, công nghệ hàng năm; các lớp tập huấn ngắn hạn định kỳ hàng năm về phổ biến văn bản pháp luật, kỹ năng chuyển giao công nghệ và lập hợp đồng chuyển giao công nghệ.

 

10. Đề án đổi mới cơ chế và chính sách thu hút và sử dụng trí thức khoa học - công nghệ trong và ngoài nước. Đề án đề xuất một số cơ chế, chính sách như: hỗ trợ kinh phí cho cán bộ khoa học và công nghệ Thành phố tham dự Hội thảo, Hội nghị khoa học ở nước ngoài, đăng báo và các tạp chí chuyên ngành quốc tế; Hỗ trợ đăng ký bảo hộ quyền Sở hữu trí tuệ các công trình nghiên cứu - triển khai; Hỗ trợ đào tạo cán bộ khoa học và công nghệ nâng cao trình độ chuyên môn; Chính sách đãi ngộ theo kết quả đóng góp của các nhà khoa học,… tạo động lực cho các nhà khoa học đóng góp tích cực cho sự phát triển thành phố. Thông qua Đề án, Sở Khoa học và Công nghệ đã đề xuất với Thành ủy, UBND TP một số cơ chế, chính sách đặc thù về điều kiện làm việc, chế độ đãi ngộ, đào tạo nguồn nhân lực cho Viện Khoa học và Công nghệ Tính toán TP.HCM. Thành phố bổ nhiệm lãnh đạo Viện Khoa học Công nghệ Tính toán là các nhà khoa học Việt kiều, thể hiện quan điểm sử dụng, trọng dụng và tạo môi trường thuận lợi để trí thức phát huy năng lực sáng tạo của mình.

 

11. Đề án thành lập Viện Khoa học và Công nghệ Tính toán

Viện Khoa học và Công nghệ Tính toán được thành lập vào năm 2007 và đã đi vào hoạt động với sự tham gia của 07 nhà khoa học Việt kiều uy tín từ Bỉ, Ba Lan, Úc, Hoa Kỳ, Canada hiện đang là lãnh đạo khoa học chủ chốt của Viện và 32 cán bộ nghiên cứu phần lớn là các sinh viên tốt nghiệp loại giỏi và xuất sắc từ các trường Đại học. Viện đã và đang thực hiện 14 công trình khoa học trong các lĩnh vực Vật liệu - Nano, Cơ học, Thủy động lực học, Khoa học Sự sống, Năng lượng; Đã viết và xuất bản 6 bài báo khoa học trên các tạp chí khoa học chuyên ngành uy tín. Sau 3 năm hoạt động, Viện đã đạt được nhiều kết quả tích cực về mọi mặt: xây dựng/đào tạo nhân lực, nghiên cứu khoa học, tạo dựng mối quan hệ khoa học với cộng đồng khoa học trong và ngoài nước, xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất,…

Như vậy, trong một thời gian ngắn với sự đóng góp nhiệt huyết của các nhà khoa học Việt kiều, Thành phố đã và sẽ đào tạo một số “ekip” khoa học trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ hiện đại của thế giới. Từ mô hình thí điểm này có thể rút ra được những bài học kinh nghiệm trong việc mời gọi, vận động và nhất là phải tạo ra được môi trường làm việc thuận lợi cho các nhà khoa học Việt kiều và đồng thời họ không phải tiếp xúc với các thủ tục hành chính còn rất nặng nề ở Việt Nam… Nếu Thành phố nhân rộng mô hình này, trong một thời gian ngắn chúng ta sẽ tiếp cận nhanh với những lĩnh vực khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại của thế giới, làm chủ được một số công nghệ nguồn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố.

 

12. Dự án đầu tư xây dựng công trình phòng thí nghiệm phân tích chất lượng cao - làm cơ sở kiểm định chất lượng hàng hóa trình độ cao ngang tầm quốc tế do Trung tâm Dịch vụ Phân tích & Thí nghiệm làm chủ đầu tư. Tổng vốn đầu tư được duyệt là 87,468 tỷ đồng từ nguồn ngân sách thành phố.

 

13. Dự án đầu tư dự án xây dựng Trung Tâm Thông Tin Khoa học và Công nghệ khu vực phía Nam.

Đây là dự án UBND TP và Bộ Khoa học và Công nghệ cùng đầu tư để Trung Tâm Thông Tin Khoa học và Công nghệ khu vực phía Nam thực sự trở thành nguồn lực đi trước đón đầu và là Sàn giao dịch công nghệ và thiết bị. Kinh phí đầu tư dự kiến khoảng 250 tỷ đồng, trong đó Thành phố đảm bảo mặt bằng thực hiện dự án; Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan chủ quản đầu tư, đảm bảo kinh phí thực hiện dự án.

 

14. Chương trình liên kết hợp tác khoa học và công nghệ trong và ngoài nước:

 

a) Tăng cường liên kết hợp tác với các ngành, các trường đại học, Viện/Trung tâm nghiên cứu trong đào tạo, nghiên cứu khoa học để phát huy đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ, sử dụng hiệu quả tiềm lực khoa học và công nghệ của các ngành Trung ương đóng trên địa bàn Thành phố như: hợp tác với ĐHQG - TP.HCM, Viện Khoa học và Công nghệ VN, Viện Khoa học và Công nghệ - Bộ Quốc phòng, Tổng Cục Kỹ thuật - Bộ Công An, Công An TP.HCM... thông qua các chương trình NC ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ đổi mới sản phẩm, công nghệ, hiện đại hóa sản xuất và xuất khẩu; Với Bộ Tư lệnh Hải quân thực hiện chương trình hỗ trợ Bộ đội Trường Sa. Nâng cao vai trò của Liên hiệp các Hội KH - KT TP.HCM trong việc đặt hàng nghiên cứu đề tài, cung cấp các giải pháp tư vấn, phản biện và giám định xã hội cho các

dự án lớn của thành phố.

Ký kết hợp tác với BQL KCX-KCN (HEPZA), Hiệp Hội Doanh nghiệp TP, Tổng Công ty Công nghiệp Sài Gòn, Hội Nông dân TP, Hội Chất lượng TP về hỗ trợ doanh nghiệp, nông dân đổi mới công nghệ, đào tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh và quản lý trong quá trình hội nhập.

 

Ký kết hợp tác khoa học công nghệ phục vụ an ninh quốc phòng

 

b) Ký kết hợp tác họat động khoa học và công nghệ với 27 địa phương để tăng cường nguồn lực khoa học và công nghệ phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội TP.HCM và khu vực phía Nam gồm các tỉnh, thành: Dak Nông, Daklak, Gia Lai, Kontom, Quảng Trị, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng, Tây Ninh, Đồng Nai, Bì nh Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiên Giang, An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Tiền Giang, Long An, Trà Vinh, Vĩnh Long, Bến Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau về thực hiện các đề tài nghiên cứu; chuyển giao công nghệ; triển khai dự án về tiết kiệm năng lượng; xây dựng nhãn hiệu tập thể; ứng dụng Hệ thống Thông tin Địa lý - GIS trong công tác quản lý; trao đổi thông tin, tư vấn, đào tạo tập huấn và dịch vụ khoa học công nghệ.

 

c) Hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ để tăng cường nguồn lực, thu hút các nguồn vốn đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ thành phố. Giai đoạn 2006 - 2010 hoạt động hợp tác quốc tế hướng về chuyển giao công nghệ, năng lượng tái tạo và nhiên liệu sinh học, công nghệ sinh học, phân tích kiểm nghiệm,… Các dư án nổi bật:

Về Năng lượng: Hợp tác với các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực tiết kiệm năng lượng và năng lượng mới như: ADEME, UNDP, JICA, IEPF, UNIDO, Rhône-Alples,… Với tổ chức DEDE (Thái Lan) về chuyển giao công nghệ sản xuất dầu sinh học từ thực vật; Với tổ chức Paddi (Pháp) về đào tạo bồi dưỡng kiến trúc tòa nhà sinh thái; Hợp tác với Đại học Tokyo và Đại học Kỹ thuật Toyohashi - Nhật Bản về hỗ trợ chuyên gia trong lĩnh vực phát triển Biomass.

Về Công nghệ Sinh học: Ký kết hợp tác ứng dụng phát triển các sản phẩm Công nghệ Sinh học với Cuba. Với Đại học Tsukuba - Nhật Bản về đào tạo sau đại học.

Về Phân tích kiểm nghiệm: ký kết Thỏa ước giữa Trung tâm Dịch vụ Phân tích Thí nghiệm (CASE) với Cơ quan Nghiên cứu Quốc gia Pháp (CNRS) giai đoạn 2008 - 2011 về đào tạo cán bộ phân tích kiểm nghiệm; với Đại học IUT-Orsay (Pháp) về liên kết đào tạo sinh viên thực tập các kỹ năng phân tích và thí nghiệm. Với Trung tâm phân tích Solaize (SCA) về hợp tác triển khai các phương pháp phân tích, thực hiện các dự án liên kết, trao đổi thông tin.

Lĩnh vực khoa học và công nghệ: Hợp tác với Viện Công nghệ Công nghiệp Hàn Quốc (Kitech) và Trung tâm hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa Hàn Quốc (SBC) về chuyển giao công nghệ, tư vấn đổi mới thiết bị, vườn ươm doanh nghiệp công nghệ, phát triển kỹ thuật tiên tiến phục vụ doanh nghiệp vừa và nhỏ; Với Quỹ quốc tế chuyển giao công nghệ (CHLB Nga) về chuyển giao công nghệ sản xuất nano bạc, pin mặt trời; Với Hiệp hội Xúc tiến phát minh Hàn Quốc (KIPA) về chuyển giao công nghệ.

Hợp tác với IBM về tư vấn cho Thành phố chiến lược và giải pháp kỹ thuật ở một số lĩnh vực: Giao thông; Chính phủ điện tử; Quản lý nguồn nước; Hệ thống truy xuất nông sản và phát triển Khoa học Dịch vụ; với Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Tây, Trung Quốc về liên kết mạng thông tin khoa học và công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực; xúc tiến thương mại hóa các sản phẩm khoa học công nghệ.

 

 

Object reference not set to an instance of an object.

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

3
0
0
6
7
9
8
Tìm kiếm