Tin tức - Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp (CT 68) 09 Tháng Chín 2009 9:45:00 SA

Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp

            Nhằm đánh giá tình hình triển khai Chương trình và những kết quả đạt được sau hơn 3 năm thực hiện, đồng thời trao đổi về định hướng phát triển Chương trình giai đoạn 2011-2015, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tổ chức Hội nghị sơ kết Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp vào ngày 17/7/2009 tại Hà Nội.  

            Tham dự Hội nghị gồm có gần 200 đại biểu là đại diện của các đơn vị: Văn phòng Chính phủ, Bộ KH&CN và các Bộ được giao nhiệm vụ phối hợp triển khai Chương trình theo Quyết định số 68/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (Tài chính, Tư pháp, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Y tế ... ), 47 Sở Khoa học và Công nghệ, 30 cơ quan chuyên môn chủ trì và phối hợp thực hiện các dự án thuộc Chương trình và 18 cơ quan báo chí, truyền thông.

            Ông Trần Quốc Thắng - Thứ trưởng Bộ KH&CN, Trưởng ban Chỉ đạo Chương trình đã đến dự và phát biểu khai mạc tại Hội nghị.

Trong bài phát biểu khai mạc, Thứ trưởng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tạo lập, quản lý và phát triển tài sản trí tuệ trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa. Đồng chí cho rằng: Chương trình 68 đã thiết lập cơ chế tác động toàn diện và trực tiếp nhằm thúc đẩy và hỗ trợ việc tạo lập, phát triển tài sản trí tuệ của các doanh nghiệp Việt Nam. Chương trình 68 đã được triển khai chặt chẽ, có định hướng cụ thể; thu hút được sự tham gia của đông đảo các tổ chức, cá nhân có nhu cầu. Tuy nhiên, Chương trình cũng còn có những hạn chế, thiếu sót về nội dung và cơ chế triển khai, chưa thực sự đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của các địa phương, doanh nghiệp.  

Sau phần khai mạc, nội dung Hội nghị được chia thành 2 phần: sơ kết 3 năm thực hiện Chương trình 68 và trao đổi về định hướng phát triểnChương trình 68 giai đoạn 2011-2015

1. Về kết quả 3 năm triển khai Chương trình 68

Đồng chí Hoàng Văn Tân, Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ - Trưởng ban Thư ký Chương trình đã báo cáo kết quả 3 năm triển khai Chương trình:

- Hệ thống các văn bản về quản lý và tổ chức triển khai Chương trình đã được xây dựng và ban hành khá đầy đủ;

- Công tác tuyên truyền, giới thiệu và hướng dẫn tham gia Chương trình 68 được tổ chức thực hiện dưới nhiều hình thức;

- Bộ KHCN đã tổ chức xây dựng và phê duyệt 04 Danh mục với tổng số 119 dự án để tổ chức tuyển chọn đơn vị chủ trì thực hiện;

- Đã tổ chức tiếp nhận tổng số 175 Hồ sơ đăng ký chủ trì thực hiện dự án;

- Tổ chức 31 Hội đồng chuyên môn để thẩm định Hồ sơ và đã tuyển chọn được 58 dự án đủ điều kiện trình phê duyệt. Tính đến hết tháng 6/2009, có 34 dự án đã được phê duyệt. Bên cạnh đó, 71 dự án đang được xem xét, thẩm định;

- Cục Sở hữu trí tuệ đã ký 34 Hợp đồng giao chủ trì thực hiện dự án. Đã tổ chức kiểm tra tình hình thực hiện dự án của 17 đơn vị và tổ chức nghiệm thu, thanh quyết toán 2 dự án;

            - Đến hết tháng 6/2009, Chương trình đã sử dụng 18.020,3 triệu đồng, trong đó: Chi cho các hoạt động chung là: 4.527,6 triệu đồng và chi cho các dự án thực hiện Chương trình là: 13.492,7 triệu đồng.

Báo cáo cũng đã chỉ rõ những hiệu quả kinh tế - xã hội bước đầu của Chương trình 68. Sau hơn 3 năm triển khai, Chương trình 68 đã có những tác động đáng kể đến kinh tế - xã hội nhằm nâng cao nhận thức về sở hữu trí tuệ, từ đó tạo ra phong trào mạnh mẽ trong công tác xác lập, quản lý và phát triển tài sản trí tuệ cho cộng đồng. Thông qua Chương trình, bước đầu đã định hình được việc sử dụng công cụ sở hữu trí tuệ để nâng cao giá trị và tính cạnh tranh của sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm nông nghiệp. Chương trình cũng đã góp phần hỗ trợ đưa các kết quả nghiên cứu, sáng chế vào thực tiễn đời sống, phục vụ lợi ích dân sinh thông qua các dự án khai thác và áp dụng sáng chế. 

Sau khi nghe báo cáo tổng hợp kết quả sau hơn 3 năm triển khai Chương trình, một số đơn vị liên quan đã có báo cáo tham luận về tình hình tham gia Chương trình:

- Đại diện Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Đồng chí Phạm Văn Mạch,  Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường - thành viên Ban Thư ký Chương trình) đã báo cáo về tình hình phối hợp triển khai Chương trình 68 của Bộ trong thời gian qua và đề xuất một số nội dung cần chú trọng phát triển trong thời gian tới.

Trong quá trình triển khai Chương trình 68, nhiều chuyên gia có uy tín của Bộ NNPTNT đã tham gia Hội đồng chuyên môn với tư cách là chủ tịch, phản biện hoặc uỷ viên để đánh giá, thẩm định các Hồ sơ đăng ký chủ trì thực hiện Dự án thuộc Chương trình về xác lập, quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận và nhãn hiệu tập thể dùng cho đặc sản của các địa phương. Nhiều đơn vị thuộc Bộ như Viện Thổ nhưỡng nông hoá, Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, Viện Nghiên cứu Rau quả Trung ương,... đã tư vấn cho các địa phương xây dựng các Dự án đăng bạ, quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể cho các loại đặc sản nông nghiệp theo khuôn khổ Chương trình 68.  

Có thể nhận thấy nhu cầu của các địa phương/doanh nghiệp cần được hỗ trợ tạo lập và phát triển tài sản trí tuệ cho các đặc sản là rất lớn và rất cần thiết trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay. Vì vậy, cần đẩy mạnh việc bảo hộ và phát triển tài sản trí tuệ cho các loại đặc sản. Đây là một trong những điều kiện tiên quyết tạo nên sự gia tăng về giá trị kinh tế cho sản phẩm, từ đó góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người nông dân. Mặc dù rất cần thiết và có nhu cầu lớn nhưng số lượng dự án của các địa phương có đủ điều kiện dể phê duyệt còn ít; thời gian tới, cần đẩy mạnh hơn nữa nhiệm vụ này.

- Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Giang (Ông Nguyễn Văn Xuất - Phó Giám đốc Sở) đã đại diện các đơn vị chủ trì thực hiện dự án báo cáo về kết quả và hiệu quả thực tế của việc triển khai dự án “Xây dựng  chỉ dẫn địa lý “Lục Ngạn” dùng cho sản phẩm vải thiều của tỉnh Bắc Giang”. Với sự hỗ trợ từ Chương trình 68, Sở KHCN Bắc Giang đã phối hợp với các cơ quan chuyên môn tiến hành điều tra, xác định cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý Lục Ngạn dùng cho sản phẩm vải thiều. Chỉ dẫn địa lý này đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký bảo hộ số 00015 ngày 25/6/2008. Sau khi được bảo hộ chỉ dẫn địa lý, giá bán sản phẩm vải thiều tăng từ 2-1,3 lần. Vùng sản xuất sản phẩm được quy hoạch gồm 20 xã với diện tích 17.039,55 ha. Để phát huy hiệu quả thực tế của việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý, Chương trình 68 sẽ tiếp tục hỗ trợ tỉnh Bắc Giang triển khai Dự án “Quản lý và phát triển chỉ dẫn địa lý dùng cho vải thiều Lục Ngạn” (Dự án hiện đang trong giai đoạn thẩm định về nội dung và kinh phí).  

            - Cơ quan đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ tại TP. Hồ Chí Minh (Ông Bùi Văn Quyền - Vụ trưởng) cũng đại diện cho các đơn vị chủ trì dự án báo cáo về tình hình triển khai Dự án “Hỗ trợ tổ chức hoạt động sở hữu trí tuệ trong doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu”. Qua thực tế chà sát với các doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học trong quá trình triển khai dự án, có thể thấy rằng: để triển khai dự án một cách hiệu quả, cần chọn đúng đối tượng và giao nhiệm vụ cho người đứng đầu cơ quan, bên cạnh đó, cần tổ chức các chương trình đào tạo về sở hữu trí tuệ cho các lãnh đạo chuyên ngành của các đơn vị, doanh nghiệp. Quá trình triển khai Chương trình cần có sự kết hợp chặt chẽ với các Hiệp hội doanh nghiệp, Hội tiêu chuẩn và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng...Để nâng cao năng lực cạnh tranh, đưa hàng hóa của VN ra với nước ngoài, cần có sự lồng ghép giữa Chương trình 68 với các Chương trình khác nhằm tạo sự giao thoa trong hoạt động hỗ trợ.

- Đại diện các cơ quan chuyên môn, Viện Thổ nhưỡng - Nông hóa(Ông Hồ Quang Đức - Viện trưởng) đã báo cáo về tình hình phối hợp và tư vấn về chuyên môn cho các đơn vị chủ trì triển khai các dự án xây dựng chỉ dẫn địa lý dùng cho nông sản. Viện đã và đang hỗ trợ xây dựng 8 chỉ dẫn địa lý trong khuôn khổ Chương trình 68. Theo đánh giá của Viện, tiềm năng phát triển các nông đặc sản của Việt Nam là rất lớn, các sản phẩm đều có chất lượng cao, có danh tiếng, uy tín và có đặc thù riêng đặc trưng cho từng vùng, từng địa phương. Nhà nước cần tăng cường các chính sách hỗ trợ nhằm phát triển, nâng cao giá trị cho các sản phẩm này và đặc biệt là cần có hệ thống kiểm soát chất lượng cho sản phẩm. Bên cạnh đó, cần có sự liên kết, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, các cơ quan chuyên môn liên quan và các địa phương trong quá trình xây dựng và bảo hộ và phát triển tài sản trí tuệ cho nông đặc sản.  

2. Về định hướng phát triển Chương trình giai đoạn 2011-2015

            Tại Hội nghị, Ông Trần Việt Hùng, Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ đã phát biểu về định hướng phát triển hoạt động sở hữu trí tuệ giai đoạn 2010-2015. Theo đó, để đáp ứng với nhu cầu phát triển nền kinh tế đất nước và hội nhập quốc tế, công tác tạo lập và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam trong giai đoạn từ 2010 đến 2015 cần nhằm vào một số mục tiêu cụ thể sau:

            - Xây dựng hệ thống chính sách pháp luật và thực hiện các giải pháp đồng bộ nhằm thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động tạo lập và khai thác tài sản trí tuệ, trong đó lưu ý tới các chính sách và cơ chế có tính chất đột phá nhằm làm giàu cho “Quỹ tài sản trí tuệ” của đất nước;

            - Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức về sở hữu trí tuệ cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân;

            - Phát huy thế mạnh và chú trọng phát triển các đặc sản mang chỉ dẫn địa lý của Việt Nam có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế;

            - Xây dựng cơ chế khai thác và ứng dụng các nguồn thông tin sáng chế vào thực tiễn, phát huy các thế mạnh sáng tạo trong khoa học và công nghệ;

            - Tạo cơ sở pháp lý đầy đủ và khuyến khích phát triển thị trường tài sản trí tuệ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ, góp vốn, liên doanh....;

            - Thực hiện các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đẩy lùi nạn xâm phạm quyền. Không ngừng nâng cao hiểu biết và ý thức của toàn xã hội trong sáng tạo; nâng cao ý thức tự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình và tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của người khác.

Tiếp đó, Ông Tạ Quang Minh, Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ - Chánh Văn phòng Chương trình 68 đã báo cáo về định hướng phát triển Chương trình 68 giai đoạn 2011-2015. Theo đó:

- Chương trình 68 sẽ bổ sung một số mục tiêu cụ thể mang tính định lượng liên quan đến các nội dung Chương trình như tuyên truyền về sở hữu trí tuệ, hỗ trợ xác lập, quản lý và phát triển tài sản trí tuệ.

- Chương trình 68 cần được tiếp tục triển khai với quy mô toàn diện hơn. Tổ chức nhân rộng các kết quả đã đạt được trong giai đoạn trước, bao gồm: tuyên truyền về sở hữu trí tuệ; quản lý và phát triển tài sản trí tuệ, ưu tiên các đặc sản địa phương, sản phẩm chủ lực, có tiềm năng xuất khẩu; áp dụng kết quả nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ mới và việc quản lý và nâng cao chất lượng sản phẩm được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; khai thác thông tin sở hữu trí tuệ phục vụ các hoạt động nghiên cứu, triển khai và sản xuất, kinh doanh...

- Mở rộng một số nội dung của Chương trình 68: xây dựng và đưa vào vận hành các Trung tâm hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ; hỗ trợ ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ mới vào hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm nhằm nâng cao giá trị và khả năng cạnh tranh của sản phẩm được bảo hộ sở hữu trí tuệ; hỗ trợ khai thác các sáng chế không được bảo hộ hoặc hết hạn bảo hộ tại Việt Nam phục vụ hoạt động nghiên cứu, triển khai, sản xuất, kinh doanh; hỗ trợ khai thác thông tin sáng chế để định hướng nghiên cứu các sản phẩm mới; hỗ trợ triển khai các hoạt động thương mại hoá cho các sản phẩm được bảo hộ sở hữu trí tuệ; hỗ trợ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, ngăn chặn các hành vi xâm phạm, sử dụng trái phép các đối tượng sở hữu trí tuệ

Để có thể thực hiện được Định hướng phát triển Chương trình 68 giai đoạn 2011-2015 như nêu trên, một số giải pháp cần được áp dụng trong thời gian tới, bao gồm:

Hoàn thiện cơ chế tài chính áp dụng cho Chương trình 68:mở rộng các nội dung chi hỗ trợ từ Chương trình, đặc biệt là đối với việc phát triển tài sản trí tuệ của Nhà nước, tập thể hoặc cộng đồng; giảm dần mức hỗ trợ từ Ngân sách Nhà nước và tăng huy động từ các nguồn khác; xây dựng cơ chế hỗ trợ  nhiều hơn cho các địa phương có điều kiện kinh tế khó khăn thuộc vùng sâu, vùng xa; điều chỉnh một số nội dung chi và mức chi cho phù hợp với điều kiện thực tế và phù hợp với lĩnh vực sở hữu trí tuệ...;

-  Hoàn thiện cơ chế quản lý Chương trình 68: bổ sung cơ chế tuyển chọn và xác định đơn vị chủ trì đối với một số dự án không thể tuyển chọn đơn vị chủ trì theo thủ tục thông thường; cho phép mua quyền sử dụng, khai thác kết quả, sản phẩm của dự án; bổ sung quy định áp dụng đối với một số tỉnh đặc biệt khó khăn về nhân lực, cơ sở vật chất và trang thiết bị để tổ chức quản lý dự án ở địa phương có thể để nghị Bộ KHCN xem xét, tiếp nhận dự án để trực tiếp quản lý; bổ sung quy định về tạo điều kiện để các cơ quan quản lý, các chuyên gia về sở hữu trí tuệ tham gia thực hiện các nội dung của Chương trình đòi hỏi chuyên môn sâu, cần sự phối hợp của nhiều địa phương, đơn vị như: tuyên truyền, nâng cao nhận thức về sở hữu trí tuệ; đào tạo, tập huấn về sở hữu trí tuệ; hỗ trợ xúc tiến thương mại, quảng cáo ở trong và ngoài nước cho các sản phẩm được bảo hộ tài sản trí tuệ; và hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ ở trong nước và ngoài nước.

Theo Nghị quyết số 22/NQ-CP ngày 28/5/2009 của Chính phủ, Bộ Khoa học và Công nghệ được giao chủ trì xây dựng Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp giai đoạn 2011-2015 và trình Thủ tướng Chính phủ năm 2010. Tuy nhiên, để Chương trình có thể triển khai được vào năm 2011, các thủ tục tổ chức triển khai phải được bắt đầu từ năm 2010, do đó, Bộ Khoa học và Công nghệ đề nghị tiến hành các thủ tục trình Thủ tướng Chính phủ từ năm 2009.  

            Trao đổi, thảo luận về định hướng phát triển Chương trình giai đoạn 2011-2015, một số đại biểu cho rằng: cần có cơ chế đẩy nhanh tiến độ thẩm định, phê duyệt dự án, từ đó nâng cao số lượng dự án được thực hiện (rút gọn thành phần các Hội đồng chuyên môn, tăng nguồn nhân lực cho Văn phòng Chương trình); Nhà nước cần đầu tư tài chính mạnh mẽ hơn nữa cho các dự án thuộc Chương trình 68, kết hợp với tài chính địa phương và tài chính doanh nghiệp; tăng cường đẩy mạnh khuyến khích sáng tạo, nâng cao nhận thức cho các nhà khoa học... ; tăng cường hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ từ đó khuyến khích việc xác lập quyền ; kết hợp giữa hỗ trợ xác lập quyền sở hữu trí tuệ với hỗ trợ khai thác, phát triển quyền và thương mại hóa cho sản phẩm được bảo hộ sở hữu trí tuệ; tăng cường công tác truyền thông, tuyên truyền về sở hữu trí tuệ như một hình thức “marketting xã hội” nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền…  

            3. Kết luận Hội nghị

            Phát biểu kết luận Hội nghị, Thứ trưởng Trần Quốc Thắng nêu rõ:

            - Đánh giá giai đoạn hơn 3 năm thực hiện Chương trình 68, có thể khẳng định Chương trình đã được triển khai tích cực và thu được những kết quả đáng kế. Nhận thức về sở hữu trí tuệ đã được nâng cao rõ rệt. Những sản phẩm đã được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã được nâng cao giá trị kinh tế một cách đáng kế. Đây là một trong những Chương trình điểm mà Bộ Khoa học và Công nghệ triển khai và sẽ rút kinh nghiệm để áp dụng cho các Chương trình khác của Bộ nhằm phát huy hiệu quả kinh tế - xã hội;

            - Để khắc phục những hạn chế trong thời gian qua, cần tăng cường đào tạo và thiết lập một đội ngũ tuyên truyền về sở hữu trí tuệ đủ mạnh để phát triển hệ thống sở hữu trí tuệ; cần lưu ý đến tính bền vững của các dự án sau khi được xác lập quyền sở hữu trí tuệ; cơ chế quản lý Chương trình và cơ chế tài chính cần được cân nhắc và thực hiện một cách linh hoạt hơn; các chế tài bảo vệ, thực thi quyền sở hữu trí tuệ, chế tài kiểm soát chất lượng sản phẩm cần được thắt chặt hơn;

            - Một số định hướng thời gian tới:

            + Công tác giáo dục, tuyên truyền, đào tạo về sở hữu trí tuệ cần được đẩy mạnh hơn nữa, đa dạng hóa các loại hình tuyên truyền (tổ chức cuộc thi, tổ chức các hoạt động phong trào…), mở rộng diện tuyên truyền;

            + Tiếp tục đào tạo theo hướng có chiều sâu, xây dựng lực lượng chủ chốt và đội ngũ chuyên gia, tư vấn có chuyên môn để tuyên truyền, hướng dẫn về sở hữu trí tuệ;

            + Đẩy mạnh hơn tính bền vững của các dự án sau khi đã hoàn thành;

            + Phát huy vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội nông dân, thiết lập mối liên hệ chặt chẽ giữa các Bộ, các địa phương…..trong thúc đẩy phát triển tài sản trí tuệ. Cần khuyến khích và phát huy tinh thần đoàn kết, thống nhất mang tính cộng đồng trong bảo vệ và phát triển tài sản trí tuệ;

            + Tăng cường khai thác các kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ, phát huy, khai thác kho sáng chế của thế giới đã hết thời gian bảo hộ hoặc không được bảo hộ ở Việt Nam để áp dụng vào thực tiễn hoạt động sản xuất, kinh doanh;

            + Nghiên cứu gắn kết Chương trình 68 với Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia: có thể mua Bằng độc quyền sáng chế của nước ngoài để áp dụng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh ở Việt Nam;

            + Đổi mới cơ chế, chính sách về quản lý, hỗ trợ tài chính, chế tài… của Chương trình 68 nhằm đảm bảo hiệu quả triển khai Chương trình trong giai đoạn tới, đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân.

            4. Một số hoạt động bên lề Hội nghị

            Trong khuôn khổ Hội nghị, một số hoạt động bên lề cũng đã diễn ra, bao gồm:

            - Tổ chức ký kết các Hợp đồng giao chủ trì thực hiện dự án trong 2 năm 2009-2010 giữa Cục Sở hữu trí tuệ và 10 Đơn vị chủ trì dự án(Các Sở Khoa học và Công nghệ: Hà Tĩnh, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Gia Lai, Bình Thuận, Bắc Ninh, Điện Biên, Nam Định; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Sóc Trăng và Trung tâm Khoa học và Công nghệ tỉnh Kiên Giang);

            - Tổ chức trưng bày, giới thiệu các sản phẩm dự án và sản phẩm của Chương trình 68 của các địa phương: An Giang, Bến Tre, Yên Bái, Sóc Trăng, Lạng Sơn, Thừa Thiên Huế, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Hòa Bình, Cà Mau,...

                                                             Văn phòng chương trình 68


Số lượt người xem: 261    
Xem theo ngày Xem theo ngày
  • 35 nam So KHCN 1
  • 35 nam So KHCN-2
  • 35 nam So KHCN-3
  • 35 nam So KHCN-4
  • 30 năm sau một chặng đường phát triển-2
  • 30 năm sau một chặng đường phát triển-1
  • Tư liệu phát sóng

SỐ LƯỢT TRUY CẬP

3
0
1
0
0
7
4
Tìm kiếm